1. Các khu vực giải phẫu-chức năng liên quan đến ngôn ngữ
Ngôn ngữ là hoạt động liên quan đến toàn bộ não. Các chức năng nhận thức và hành vi được hối hợp bằng cách bắt chéo những mạng lưới tế bào thần kinh trên quy mô lớn chứa những thành phần vỏ và dưới vỏ liên kết với nhau.
Chất nền thần kinh của ngôn ngữ gồm có một mạng lưới phân bố tập trung trong vùng cống não của bán cầu ưu thế (bên trái ở 99% người thuận tay phải, bên phải ở 60% người thuận tay trái) và hai khu vực chính của vùng này liên quan đến ngôn ngữ là các diện của Broca và Wernicke. Các cấu trúc dưới vỏ kiểm soát hoạt động vỏ não, điều hòa các thông tin hướng tâm, li tâm vỏ não. Các khu vực khác vỏ não (cấu trúc lưới, diện vận động phụ) cũng có tác động đến hoạt động các khu vực vỏ não chuyên biệt về ngôn ngữ.
Hệ thống kiểm soát ngôn ngữ phía sau bán cầu bao gồm diện Wernicke (nửa sau của hồi thái dương thứ nhất), hồi góc và hồi trên viền (hoặc là hồi đỉnh dưới), các khu vực chất trắng lân cận, các bó liên hợp. Hệ thống này bảo đảm lưu trữ thông tin thính giác, phân tích âm học, đưa ra các định nghĩa, hoàn chỉnh hình thức về âm học và cú pháp thông tin.
Hệ thống kiểm soát ngôn ngữ phía trước bán cầu bao gồm diện Broca (chân của hồi trán ba hay diện 44 và 45 của Brodmann), phần dưới của hồi trán lên, thùy đảo, chất trắng kế cận khu vực này, các bó chất trắng quanh não thất, bao trong, nhân đuôi, nhân bèo. Hệ thống này tác động trên ba lĩnh vực: khởi động lời nói và động lực; kiểm soát nghĩa, cú pháp của các từ, các câu; lập trình, thực hiện lời nói.
Các cấu trúc kiểm soát ngôn ngữ phía trước và phía sau hoạt động liên kết với nhau và với các vùng quanh cống não, vùng thái dương, vùng đỉnh sau tạo thành một mạng lưới thần kinh phục vụ cho các mặt chức năng của ngôn ngữ. Tổn hại ở bất cứ thành phần nào trong số các thành phần này hoặc các chỗ nối kết đều gây ra mất ngôn ngữ. Chẳng hạn như: để hiểu các dạng ngữ pháp phức tạp phụ thuộc vào sự toàn vẹn của các khu vực trán, thái dương và thùy đỉnh. Có mối liên quan chặt chẽ giữa các khu vực này của vỏ não với các cấu trúc dưới vỏ nhất là đồi thị; tổn thương một khu vực có thể làm mất hoạt động chức năng của một khu vực khác ở xa. Tổn thương bán cầu não trái có mất ngôn ngữ, giảm khả năng giao tiếp, bệnh nhân tổn thương thể vân và chất trắng cạnh não thất mất ngôn ngữ dạng lời nói mất tính trôi chảy nhưng vẫn hiểu được và lời nói có ý nghĩa. Trong khi mất ngôn ngữ kiểu giác quan (Wernicke), bệnh nhân vẫn nói bình thường nhưng không hiểu nói gì và lời nói không có nghĩa.
2. Đặc điểm của mất ngôn ngữ trên bệnh nhân đột quỵ não
2.1. Các dạng mất ngôn ngữ ở bệnh nhân đột quỵ não
Năm 1861, Broca mô tả trường hợp một bệnh nhân bị nhồi máu não bán cầu trái không thể diễn tả được ý nghĩ của mình trong khi vẫn hiểu rất tốt lời nói xung quanh. Năm 1868, sau nghiên cứu trên nhiều bệnh nhân, Broca khẳng định phần sau của hồi trán 3 có vai trò trong quá trình diễn đạt bằng lời nói. Loại mất ngôn ngữ vận động sau này mang tên ông (mất ngôn ngữ Broca).
Năm 1874, Carl Wernicke phát hiện mất ngôn ngữ liên quan đến tổn thương thùy thái dương bên trái gọi là mất ngôn ngữ Wernicke.
Năm 1885, Lichtheim chia mất ngôn ngữ thành các loại sau:
- Mất ngôn ngữ vỏ não vận động (mất ngôn ngữ Broca).
- Mất ngôn ngữ giác quan (mất ngôn ngữ Wernicke).
- Mất ngôn ngữ dẫn truyền.
- Mất ngôn ngữ xuyên vỏ não vận động và giác quan.
- Mất ngôn ngữ dưới vỏ vận động và giác quan.
Hubertus Axer và Jan Jantzen phân thành 4 loại mất ngôn ngữ: mất ngôn ngữ tiếp nhận, diễn đạt, toàn bộ và mất định danh. Các nghiên cứu thực nghiệm cho phép xác định các vị trí của trung tâm liên quan đến ngôn ngữ một cách chính xác hơn, đặt biệt là kích thích trực tiếp trên vỏ não trong lúc phẫu thuật thần kinh và gây tê tại chỗ. Trong thực hành lâm sàng phân loại theo Marja-Liisa Kauhanen và Julia Barrett dựa vào đặc điểm lời nói tự nhiên, sự thông hiểu, khả năng lặp lại và khả năng định danh chia mất ngôn ngữ thành 8 dạng như bảng 1
Bảng 1. Các dạng mất ngôn ngữ trên bệnh nhân đột quỵ não
Các dạng mất ngôn ngữ | Lưu loát | Thông hiểu | Lặp lại |
Mất ngôn ngữ định danh | Lưu loát | Thông hiểu tốt | Lặp lại tốt |
Mất ngôn ngữ dẫn truyền | Lập lại kém |
Mất ngôn ngữ cảm giác xuyên vỏ | Thông hiểu kém | Lặp lại tốt |
Mất ngôn ngữ Wernicke | Lập lại kém |
Mất ngôn ngữ vận động xuyên vỏ | Không Lưu loát | Thông hiểu tốt | Lặp lại tốt |
Mất ngôn ngữ Broca | Lập lại kém |
Mất ngôn ngữ xuyên vỏ hỗn hợp | Thông hiểu kém | Lặp lại tốt |
Mất ngôn ngữ toàn bộ | Lập lại kém |
2.2. Tình trạng và mức độ mất ngôn ngữ ở bệnh nhân đột quỵ não
Việc đánh giá tình trạng mất ngôn ngữ và phân chia mức độ nặng đòi hỏi phải chú ý đến nhiều khía cạnh; trên lâm sàng dựa vào ba phương diện:
- Khả năng giao tiếp bệnh nhân: dựa trên các câu trả lời được đặt ra cho phép đánh giá khả năng truyền đạt thông tin cần thiết của bệnh nhân.
- Khởi động lời nói và sự thuần thục khi nói: giúp phân loại bệnh nhân thuộc nhóm mất ngôn ngữ nào.
- Chất lượng: kiểm tra việc sử dụng ngữ pháp và mức độ phức tạp của các cấu trúc ngữ pháp được sử dụng.
- Ngoài ra bệnh nhân được yêu cầu sử dụng ngôn ngữ do bác sĩ yêu cầu như: gọi tên các đồ vật, mô tả hình ảnh, lặp lại từ; đọc và viết.

Hình 1.2. Ghi hình cộng hưởng từ chức năng ngôn ngữ và sự
tập trung chú ý người thần kinh còn nguyên vẹn
Hình 1.2 cho thấy các vùng sẫm là vùng kích hoạt có ý nghĩa liên quan đến việc phải làm (hình a) đối tượng được yêu cầu nói hai từ có đồng nghĩa không. Công việc này kích thích đồng thời hai trung tâm mạng lưới ngôn ngữ, vùng Broca (B) và vùng Wernick (W). Sự kích hoạt chỉ xảy ra ở bán cầu não trái (hình b) đối tượng được yêu cầu chuyển sự chú ý không gian đến một mục tiêu ngoại vi. Công việc này kích hoạt đồng thời ba trung tâm mạng lưới: vỏ não đỉnh sau (P), thị trường trán (F), và hồi thể chai (CG). Các kích hoạt chủ yếu xảy ra ở bán cầu phải.
Theo Carole Anglade, Alexander Thiel và Ana Inès Ansaldo: mức độ nặng của ngôn ngữ tùy thuộc vào mức độ tổn thương và vị trí các vùng trung tâm ngôn ngữ, chia làm 3 mức độ:
- Mất ngôn ngữ nhẹ: tổn thương nằm ngoài các vùng giải phẫu xử lý ngôn ngữ chính (vùng Broca và Wernicke), kích hoạt bán cầu não phải yếu.
- Mất ngôn ngữ trung bình: tổn thương ảnh hưởng đến các khu vực ngôn ngữ nhưng không hoàn toàn, kích hoạt bán cầu não phải mạnh trong giai đoạn cấp và bán cầu não trái trong giai đoạn mạn.
- Mất ngôn ngữ nặng: tổn thương hoàn toàn các khu vực xử lý ngôn ngữ chính (nhồi máu lớn bên trái), kích hoạt bán cầu não phải có trong giai đoạn cấp tính, mạn.
3. Các yếu tố liên quan đến mất ngôn ngữ trong đột quỵ não
- Tuổi: không có khác biệt về tuổi trong mất ngôn ngữ. Tuy nhiên, tình trạng mất ngôn ngữ tăng cao hơn trong nhồi máu não ở bệnh nhân lớn tuổi và có mối liên quan giữa mất ngôn ngữ về sau khi tuổi gia tăng.
- Giới tính: nhiều nghiên cứu cho kết quả khác nhau; phần lớn ghi nhận tỷ lệ nam, nữ bằng nhau nhưng một số nghiên cứu thấy tỷ lệ nữ cao hơn nam trong nhồi máu não.
- Thang điểm NIHSS: mức độ nặng thang điểm liên quan đến tình trạng mất ngôn ngữ ở bệnh nhân đột quỵ não mới nhập viện và giúp tiên lượng khả năng phục hồi bệnh nhân; tiên lượng tốt khi ≤5 cho bệnh nhân bị đột quỵ não tuần hoàn sau và ≤8 cho các bệnh nhân đột quỵ não tuần hoàn trước.NIHSS <5 điểm lúc nhập viện tiên lượng phục hồi ngôn ngữ sau 6 tháng là 90%.
- Đái tháo đường: cơ chế liên quan đến các biến chứng vi mạch máu não ở bệnh nhân đái tháo đường. Tắc động mạch nhỏ không gây triệu chứng nhưng có thể làm giảm lưu lượng máu nuôi đến các vùng chức năng ngôn ngữ. Sau đột quỵ não nguy cơ thiếu máu nuôi tăng lên nên biểu hiện lâm sàng mất ngôn ngữ ở bệnh nhân đái tháo đường sớm, nhiều hơn.
- Kích thước, vị trí tổn thương:
+ Theo Mazzoni và các đồng nghiệp: khả năng phục hồi ngôn ngữ khác nhau phụ thuộc vào kích thước tổn thương: bệnh nhân có tổn thương nhỏ khả năng cải thiện đáng kể về thính giác, nói và đọc hiểu; tổn thương kích thước trung bình cải thiện thính giác và lời nói; trong khi những bệnh nhân có tổn thương lớn chỉ cải thiện về thính giác.
+ Theo Naeser và các đồng nghiệp : khả năng hiểu liên quan thùy thái dương vùng Wernicke, bệnh nhân đột quỵ não tổn thương hơn một nửa vùng Wernicke thì khả năng hiểu kém, phục hồi sau 1 năm chậm. Tổn thương các bó chất quanh não thất, thùy đảo ảnh hưởng khả năng nói lưu loát.
- Các yếu tố khác:
+ Tay thuận: tiên lượng phục hồi mất ngôn ngữ sau đột quỵ não ở những người thuận tay trái cao hơn người thuận tay phải.
+ Trình độ học vấn: liên quan đến mức độ nghiêm trọng mất ngôn ngữ khi nhập viện, không ảnh hưởng đến khả năng phục hồi. Tuy nhiên, dữ liệu gần đây không ghi nhận mối liên quan giữa học vấn và mức độ nặng ban đầu, khả năng phục hồi bệnh nhân.
4. Kết Luận
Mất ngôn ngữ sau đột quỵ não làm ảnh hưởng đến ngôn ngữ nói và viết dẫn đến hạn chế khả năng giao tiếp, tham gia các hoạt động xã hội. Vì vậy ảnh hưởng trực tiếp đến tâm lý và đời sống sinh hoạt hằng ngày của người. Khi khám mất ngôn ngữ trên bệnh nhân đột quỵ não cấp cần đánh giá toàn diện: dạng mất ngôn ngữ, mức độ, các yếu tố liên quan,... từ đó đề ra phương pháp điều trị thích hợp cũng như tiên lượng khả năng phục hồi sớm ngôn ngữ của bệnh nhân.
Tài Liệu Tham Khảo
1. Lê Quang Cường (2010), "Rối loạn ngôn ngữ", Triệu chứng học thần kinh, Nhà xuất bản y học, tr. 171-181.
2. Vũ Anh Nhị (2013), Sổ tay lâm sàng thần kinh sau đại hoc, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Thành Phố Hồ Chí Minh, tr.131-143.
3. Alexander R. Luria (2014), Aphasia Handbook, Alfredo Ardila Florida International University, pp. 14-16.
4. Carole Anglade, Alexander Thiel, Ana Inès Ansaldo (2014), “The complementary role of the cerebral hemispheres in recovery from aphasia after stroke: A critical review of literature”, Brain Injury, 28 (2), pp. 138-145.
5. Eugene Braunwald, Anthony S.Fauci, Dennis L.Kasper (2012), Harrison's Principles of Internal Medicine, 18th ed, The McGraw-Hill Companies, pp. 527- 532.
6. Inatomi Y, Yonehara T, Omiya S (2008), “Aphasia during the acute phase in ischemic stroke”, Cerebrovasc Dis, 25 (4), pp. 316-323.
7. Holly Robson, Roland Zahn, James L Keidel (2014), “The anterior temporal lobes support residual comprehension in Wernicke’s aphasia”, Brain, 137 (3), pp. 931-943.
8. Klebic J, Salihovic N, Salihovic D Softic R (2011), “Aphasia disorders outcome after stroke”, Med Arh, 65 (5), pp. 283-286.
9. Margaret A. Naeser, Carole L. Palumbo (1994), “Neuroimaging and Language Recovery in Stroke”, Journal of Clinical Neurophysiology, 11 (2), pp. 150-174.
10. Matthew B. Maas, Michael H. Lev, Hakan Ay (2012), “The Prognosis for Aphasia in Stroke”, Stroke Cerebrovasc Dis, 21 (5), pp. 350-357.
11. Mazzoni M (1992), “Spontaneous evolution of aphasia after ischaemic stroke”, Aphasiology, 6 (4), pp. 387-396.
12. Tsouli S, Kyritsis A.P, Tsagalis G (2009), “Significance of Aphasia after First-Ever Acute Stroke: Impact on Early and Late Outcomes”, Neuroepidemiology, 33, pp. 96-102.
Ths.Bs. Nguyễn Duy Linh